05/03/2012

Vatican-Việt Nam: Phỏng vấn Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hoà bình

Nhóm Công tác hỗn hợp Vatican-Việt Nam trong cuộc họp ngày 27/2 tại Hà Nội. (Reuters)
Nhóm Công tác hỗn hợp Vatican-Việt Nam trong cuộc họp ngày 27/2 tại Hà Nội. (Reuters)
Thanh Phương 05/03/2012
 
Trong hai ngày 27 và 28 tháng 2 vừa qua, Nhóm công tác hỗn hợp Vatican-Việt Nam đã mở cuộc họp lần thứ ba tại Hà Nội, sau nhiều tháng bị gián đoạn. Nếu như cuộc họp lần thứ hai của nhóm này vào tháng 6/2010 đã đạt một bước tiến đáng kể là Vatican bổ nhiệm một đại diện không thường trực của Giáo hoàng tại Việt Nam, Tổng giám mục Leopold Girelli, thì cuộc họp lần thứ ba trong tuần qua không có bước đột phá nào thật sự trong việc « củng cố và phát triển quan hệ song phương ».

Bản thông cáo chung do Tòa Thánh công bố ngày 28/2 mô tả cuộc họp diễn ra trong không khí “thân mật, thẳng thắng và tôn trọng lẫn nhau”. Nhưng ngoài những câu chữ mang tính chất ngoại giao, chung chung, bản thông cáo chỉ ghi nhận có một kết quả cụ thể là hai bên đồng ý tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công việc của vị đại diện không thường trú của Giáo hoàng, Đức Tổng giám mục Girelli, để Ngài có thể “thi hành sứ mạng tốt đẹp hơn”.

Như vậy là quan hệ Vatican-Hà Nội có vẻ chưa có tiến triển gì rõ rệt theo hướng thiết lập bang giao, trong bối cảnh mà giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với chính quyền còn rất nhiều vấn đề, đặc biệt là liên quan đến các tranh chấp nhà đất. Gần đây nhất có thể đơn cử việc chính quyền muốn phá hủy hoàn toàn cơ sở Đại chủng viện Vĩnh Long để xây Trung tâm thanh thiếu niên mới, một hành động bị coi là xóa dấu vết tôn giáo tại các cơ sở tôn giáo mà Nhà nước đã mượn, mặc dù Tòa Giám mục Vĩnh Long đã viết thư khẩn thiết kêu gọi chính quyền quan tâm đến nhu cầu tôn giáo.

Tại một số địa phương, các giám mục, linh mục vẫn thường bị cản trở khi làm công việc mục vụ, thậm chí bị hành hung, như trường hợp của cha Nguyễn Quang Hoa, cha phó của Giáo xứ Kon Hring, tỉnh Kontum. Ngày 23/2, sau khi cử hành một tang lễ tại làng Kon Hnong trở về, vị linh mục này đã bị ba thanh niên lạ mặt đánh đập dã man đến trọng thương, thậm chí bị dập phổi bên phải. Người dân địa phương nghĩ rằng ba thanh niên đó là do công an xã chỉ đạo hành hung cha Hòa. Không biết điều đó có đúng hay không, chỉ thấy là ba thủ phạm cho tới nay vẫn chưa bị chính quyền bắt giữ và xử lý theo pháp luật.

Trong bối cảnh như vậy, làm sao có thể đạt được công lý và hòa bình như mong muốn của các vị giám mục Việt Nam khi thành lập Uỷ ban Công lý và Hòa bình, mà chủ tịch đương nhiệm là Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh? Nhân cuộc họp giữa Vatican và Việt Nam trong tuần qua, sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn Đức Cha Nguyễn Thái Hợp:

RFI: Kính thưa Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, trước hết Đức Cha có nhận định như thế nào về kết quả cuộc họp vừa qua giữa Vatican với Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Bản thông cáo chung của cuộc họp có nhiều điểm tích cực đối với cả hai bên, về mặt ngôn ngữ cũng như về thành quả. Đây cũng là bước đi tiếp của một quá trình đã được đề ra trong cuộc đàm phán giữa hai bên và hy vọng đến cuộc họp thứ tư, được dự định tại Vatican, có thể sẽ có những điểm sáng sủa hơn.

Cuộc họp này đặc biệt nhấn mạnh rằng sẽ tạo cơ hội để Đức Tổng Giám mục Girelli, đại diện không thường trú của Tòa Thánh có điều kiện để Ngài có thể hiện diện và hoạt động ở Việt Nam một cách hiệu quả hơn, vì trong thời gian qua, sự hiện diện của Ngài cũng chỉ là để đi viếng thăm và thăm dò tình hình, sự hiện diện này cũng còn rất giới hạn. Mỗi lần vào như vậy cũng chỉ là một tháng và cũng chỉ đưọc vào những lần nhất định thôi. Chúng tôi hy vọng là trong năm tới, với cuộc họp này, Ngài sẽ hiện diện và đi lại ở Việt Nam dễ dàng hơn.

RFI: Tuy sự hiện diện của Đức cha Girelli còn gìới hạn, nhưng những lần thăm viếng Việt Nam khá là thường xuyên của vị đại diện của Đức Giáo hoàng có mang lại những gì cụ thể cho quan hệ Vatican-Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Đối với Nhà nước thi những chuyến viếng thăm đó cũng giúp giảm bớt những nghi ngờ và lo sợ về sự hiện diện của Ngài. Nhưng thật sự là trong năm qua, sự hiện diện này, với con người của Đức Tổng giám mục Girelli, đã tạo ra những nối kết. Đặc biệt, Ngài không chỉ là đại diện không thường trú của Tòa thánh đối với Nhà nước, mà Ngài còn là đại diện của Đức Thánh Cha. Ngài đi gặp gỡ giáo dân như là một vị mục tử đại diện Đức Thánh Cha và Ngài đã đi 26 giáo phận. Rất nhiều nơi giáo dân đã hồ hởi đón tiếp Ngài như đón tiếp một vị đại diện của Đức Thánh Cha và biểu lộ tâm tình của người Việt Nam đối với Đức Thánh Cha, người kế vị Thánh Phêrô ở trần gian. Tôi thấy có nhiều điểm tích cực.

Chúng tôi, hàng giám mục, cũng đã rất nhiều lần đối thoại với Ngài. Lần này, Giáo tỉnh Hà Nội cũng đã gặp gỡ phái đoàn trước khi phái đoàn gặp gỡ và làm việc với Nhà nước. Cuộc gặp gỡ đó cũng đã có nhiều điểm tích cực.

RFI: Thưa Đức Cha, những chuyến đi của Đức Tổng Giám mục Girelli phải chăng cũng đã giúp Vatican hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Giáo hội Việt Nam hiện nay, nhất là tình hình những giáo phận xa xôi hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, để có một hình thức đối thoại hiệu quả hơn với Nhà nước Việt Nam, hầu giúp cải thiện tình hình của Giáo hội trong nước ?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Tôi thấy một số người vẫn nghĩ rằng Vatican không biết gi hoặc không rõ về tình hình Việt Nam. Tôi nghĩ rằng đó là một cái nhìn hơi phiến diện và vội vàng. Theo tôi biết qua đối thoại với một số nhân vật Vatican, Tòa Thánh có rất nhiều kênh để nắm tình hình và cũng nhận được thông tin từ khá nhiều nguồn.

Nhưng dĩ nhiên, sự hiện diện của Đức Tổng giám mục Girelli, với quan sát tại chỗ, gặp gỡ tại chổ với nhiều người, cũng bổ túc thông tin của Tòa Thánh về tình hình Việt Nam. Ngài cũng rất là nhạy bén. Ngài nhìn và hiểu rất rõ tình hình muôn màu muôn sắc ở Việt Nam, nhiều khi không phải là do chủ trương chung, mà là lệ thuộc rất nhiều ở địa phương. Mỗi địa phương có một sắc vẻ khác nhau.

RFI: Chuyện vừa xảy rại tại Kontum ( vụ hành hung dã man cha Nguyễn Quang Hoà), đây phải chăng là những sự cố lẻ tẻ, chứ không hẳn là một chính sách chung nhằm cản trở việc thực hiện tự do tôn giáo ở Việt Nam?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Có lẻ là cả hai, chứ không hoàn toàn là một. Đối thoại vẫn đang gay go giữa quan niệm hữu thần và vô thần. Hai quan điểm này luôn có những đối kháng đó. Ngoài ra, trên nguyên tắc, Nhà nước cũng tuyên bố tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng các tôn giáo. Nhưng trên thực tế vẫn có những khó khăn và khó khăn đó nhiều hay ít nhiều khi cũng do tình hình địa phương đó nữa.

RFI: Với tư cách là chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình, “chi nhánh” của Hội đồng Công lý và Hòa bình của Tòa Thánh, theo Đức Cha, việc thực hiện công lý và hòa bình ở Việt Nam còn những vấn đề gì đáng nêu lên?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Việc thực hiện công lý và hòa bình là ước mơ và con đường rất dài, khó khăn và diệu vợi ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt ở Việt Nam thì con đường đó dài và gồ ghề hơn. Chúng ta thấy còn rất nhiều vấn đề phải nêu lên. Tôi nghĩ rằng có lẽ chúng ta chỉ mới đi những bước đầu tiên và mỗi ngày có thêm những thách đố khác nữa.

Vừa rồi chúng tôi vừa có một cuộc họp nội bộ để nhìn lại những hoạt động của chúng tôi và cũng có một sự chuyển đổi, bổ túc nhân sự nhiều hơn và rõ rệt hơn trong Uỷ ban. Chẳng hạn cha cựu Tổng thư ký của Uỷ ban thì sẽ chuyển sang một lĩnh vực khác, bởi vì ở Việt Nam thời hậu chiến, cũng như trong những năm vừa qua có rất nhiều vấn đề về con người, về tâm linh, sức khoẻ tâm thần, cho nên cha Nguyễn Ngọc Sơn sẽ chuyên tâm hơn về vấn đề tâm lý của giới trẻ. Chúng tôi sẽ có một Tổng thư ký mới, lo nhiều hơn cho vấn đề xã hội, công lý.

RFI: Thưa Đức Cha, khi Uỷ ban Công lý và Hòa bình được thành lập, rất nhiều người trông chờ là Uỷ ban này sẽ có tiếng nói mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn trong những sự việc xảy ra thường xuyên, đặc biệt liên quan đến Gíáo hội Việt Nam, chẳng hạn những vụ tranh chấp đất đai giữa Giáo hội với các chính quyền đị phương. Vai trò của Uỷ ban phải là như thế nào, tức là làm sao có tiếng nói, nhưng không để bị xem như là can thiệp vào lĩnh vực chính trị dưới con mắt của chính quyền?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp : Một số người vẫn nhiều khi vô hình trung biến Uỷ ban thành một thứ uỷ ban đòi đất, hay một thứ bao công. Có lần tôi nói đùa như vậy. Có lẻ do hoàn cảnh của Việt Nam, do cái luật đất đai mà chúng tôi cũng đã nhiều lần lên tiếng rằng nó có quá nhiều vấn đề. Chính vì thế mà hơn 80% các vụ khiếu kiện ở Việt Nam là hậu quả của luật đất đai không phù hợp. Nó không phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, với kinh tế thị trường, đi ngược với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, vì không chấp nhận quyền tư hữu của người dân. Đây cũng là cái luật đem lại thiệt thòi cho nông dân. Nông dân không thể sở hữu đất vĩnh viễn và cũng không có quyền chuyển nhượng lại cái quyền đất đai đó cho con cháu mình. Hơn nữa, luật đất đai cũng là nguồn tham nhũng rất lớn. Trên nguyên tắc, đất đai thuộc về nhân dân, nhưng do Nhà nước quản lý. Làm sao có thể giải thích điều đó? Phải chăng cái nguyên tắc đó trên thực tế không lý tưởng như người ta nói.

Chính vì vậy, từ khi xuất hiện Uỷ ban Công lý thì chúng tôi phải đối diện với vấn đề đó. Một số can thiệp lúc đầu cũng đã đi ngay vào vấn đề này. Nhưng một trong những nhiệm vụ lớn của chúng tôi là phổ biến giáo huấn về Xã hội Công giáo, một cách để loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Và để loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay thì phải luôn luôn đi vào mọi lĩnh vực: cuộc sống, xã hội, chính trị kinh tế, trong đó quyền của con người vẫn được đề cao. Chính vì vậy, hoạt động của Uỷ ban Công lý và Hòa bình rộng hơn là chuyện đòi đất.

Nhưng không thể là không can thiệp vào chuyện đòi đất, vì 80% khiếu kiện ở Việt Nam là liên quan đến đất đai và càng ngày khiếu kiện đó càng mang tính chất nổi cộm và nhạy cảm, như vụ của ông Vươn ở Hải Phòng. Chính chúng tôi cũng đã ký tên trong những bản kiến nghị đó.

Chính vì vậy có một số người đòi hỏi quá và biến chúng tôi thành như một cơ quan đòi đất và muốn chúng tôi can thiệp vào chuyện Nhà nước, mà theo quan điểm chung, thì Giáo hội tôn trọng vai trò của chính quyền dân sự. Giáo hội góp ý, chỉ lên tiếng. Chúng tôi chỉ dừng ở chỗ là đưa ra những định hướng, những nhận định, chứ không thể là thay thế hay can thiệp vào chính quyền dân sự, vì đó không phải là mục đích của chúng tôi.

RFI: Thưa Đức Cha, trong cuộc họp vừa qua giữa Vatican với Việt Nam thì hai bên cũng đã nhấn mạnh đến Giáo huấn của Giáo Hoàng Benendicto 16 về việc “ tín hữu Công giáo tốt cũng phải là một công dân tốt”. Đây cũng là lập luận mà chính quyền thường nêu ra để cho rằng người Công giáo cũng phải chấp hành luật lệ như những công dân khác, chứ không nên đòi hỏi những gì cao hơn về tự do tôn giáo. Ý kiến của Đức Cha như thế nào?

Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Chúng tôi cũng đã có làm hai cuộc hội thảo nhỏ, nhưng vẫn chưa đi đến một kết luận có tính cách nhất thống về điểm đó. Có lẽ trong tương lai còn phải suy nghĩ rất nhiều. Một số cán bộ giải thích rằng trong đất nước hôm nay rất dễ dàng thực hiện việc “ một người Công giáo tốt có thể là một công dân tốt”. Trên nguyên tắc là như vậy, nhưng trên thực tế thì rất khó. Một số anh em Công giáo, những người rất thành tâm thiện chí, thấy rằng trong đất nước, trong xã hội chúng ta, khi mà những giá trị của đạo đức, của luật pháp và giá trị của con người băng hoại như vậy, mà nhiều khi nhưng giá trị đó được một số cơ chế, một số quan chức coi như là chấp nhận, thì không chỉ là một người Công giáo tốt, mà ngay cả một công dân tốt cũng không thể thực hiện được trong một cái cơ chế như thế như vậy. Nói câuu đó một cách không có phân tích và không có nghiên cứu thì nhiều khi trở thành như là tuyên truyền. Chúng tôi thấy rằng sẽ cố gắng để làm sao mà thực hiện được điều đó.

Nhưng Đức Giáo Hoàng cũng yêu cầu rằng để thực hiện điều đó thì người Công giáo phải cộng tác một cách chân thành, nhưng đồng thời cũng thẳng thắng nói lên tiếng nói của lẽ phải, của công bằng. Hai điều đó phải luôn luôn đi đôi với nhau. Trong thực tại của cuộc sống, điều đó là điều rất khó, đòi hỏi phải có đối thoại, đòi hỏi phải có biến đổi rất nhiều. Tôi thấy đây là một thách đố đối với người Công giáo chúng tôi, cũng như đối với tất cả những người công dân Việt Nam trong thực tế hôm nay.

RFI : Xin cám ơn Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình.

24/02/2012

Luật sư Dương Hà : «Đừng quên Cù Huy Hà Vũ»

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và vợ là luật sư Dương Hà tại trại giam số 5, Yên Định, Thanh Hóa. Ảnh chụp từ trong xe, ngày 24/02/2012.
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và vợ là luật sư Dương Hà tại trại giam số 5, Yên Định, Thanh Hóa. Ảnh chụp từ trong xe, ngày 24/02/2012.
REUTERS/Stringer

Thanh Phương 24/02/2012
 
Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, vợ của tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, hôm nay vừa đi thăm chồng trở về. Ông Cù Huy Hà Vũ hiện đang thọ án tại Trại giam số 5 của Bộ Công An, thuộc huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa, kể từ khi bị tuyên án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế với tội danh « tuyên truyền chống Nhà nước ».

Vừa trở về Hà Nội, luật sư Dương Hà trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ:
 

" Về mặt sức khoẻ thì anh Vũ vẫn như thế, không có gì tiến triển. Anh vẫn than là hay bị đau nữa đầu và thỉnh thoảng vẫn lên cơn đau tim vào ban đêm. Nhưng về mặt tinh thần thì không có gì phải phàn nàn, tuyệt vời, không có gì dao động.

RFI : Qua chuyến thăm lần này chị có biết thêm gì về điều kiện giam giữ anh Hà Vũ ?

LS Dương Hà : Về điều kiện giam giữ thì anh Vũ có nói là họ có cải thiện một chút, tức là họ thay các xí xổm thành xí bệt, nhưng khổ nổi là lại thay một xí bệt rất bẩn, chắc là đã dùng rồi, vứt đi. Anh Vũ cũng phàn nàn về cách cư xử ( của trại giam ). Đặc biệt là hôm Tết, bánh chưng cũng như giò và các thứ khác bị thiu hết, bởi vì họ xé hết cả ra để khám. Thành ra đến khi mang vào thì ăn được chút xíu là thiu hết, phải vứt hết cả.

RFI : Được biết hôm nay cũng có nhiều người, trong đó có giáo sư Nguyễn Huệ Chi đi theo chị để thăm anh Hà Vũ, nhưng dưòng như chỉ có mình chị được vào ?

LS Dương Hà : Đúng thế ạ. Sáng nay, lúc mở cổng ra định đi thăm anh Vũ thì có một số anh em xin đi thăm cùng. Đông quá nên tôi không nhớ rõ tên, chỉ nhớ mặt thôi, nhưng trong đó thì tôi thấy có anh Huệ Chi. Có đến mấy chục người đi theo. Chỉ có mỗi mình tôi được vào vì có sổ thăm gặp. Còn những anh chị em khác thì nghe nói cũng gặp ông phó trại để ghi tên, để ông đề đạt lên cấp trên, nhưng cuối cùng ngoài tôi ra, chẳng ai được vào cả.

RFI : Hiện nay chị có tiếp tục vận động để dư luận vẫn chú đến trường hợp của TS Cù Huy Hà Vũ ?

LS Dương Hà : Lúc nào tôi cũng kêu gọi mọi người là đừng quên tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, đừng để anh ấy ngồi tù một cách uổng công, cũng như đừng quên tất cả những ai đấu tranh cho nhân quyền, tự do, hùng cường của đất nước.

RFI : Chị đã từng viết thư cho chủ tịch Nước Trương Tấn sang để lưu ý ông về trường hợp của Cù Huy Hà Vũ. Chị có đã nhận được hồi âm từ Chủ tịch ?. 

LS Dương Hà : Tôi không chỉ viết cho chủ tịch Trương Tấn Sang, mà còn viết cho tất cả các ủy viên Bộ Chính trị, cho Bộ trưởng Bộ Công an, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao và các ông trong Quốc hội. Nhưng nói chung, từ ngày chồng tôi bị bắt cho đến nay, rất nhiều đơn thư của cá nhân tôi, của em chồng tôi là Cù Thị Xuân Bích, của hai người chú là Cù Huy Thước, Cù Huy Chữ, cũng như của rất nhiều anh chị em khác, quen biết cũng như không quen biết, đều không được trả lời.

RFI: Xin cám ơn luật sư Nguyễn Thị Dương Hà.

20/02/2012

Vụ Tiên Lãng buộc Việt Nam phải nhanh chóng sửa đổi Luật đất đai

Một đồng lúa ở Châu Sơn, phía Nam Hà Nội.
Một đồng lúa ở Châu Sơn, phía Nam Hà Nội.
Reuters
Thanh Phương 20/02/2012
 
Vụ cưỡng chế thu hồi đất bị xem là trái pháp luật ở Tiên Lãng, Hải Phòng, dẫn đến hành động chống trả của gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã phơi bày thực tế lạm quyền và tham nhũng ở các địa phương, cũng như đặt ra nhiều vấn đề về tam quyền phân lập, về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhưng cấp thiết hơn hết, đó là vấn đề sửa đổi Luật Đất đai 2003, một văn bản luật bị xem là nguồn gốc của các vụ khiếu kiện về đất đai ở Việt Nam.

Ngày 10/2 vừa qua, trong kết luận về vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nhìn nhận rằng : « Trình độ, năng lực cán bộ quản lý đất đai, nhất là ở cơ sở còn nhiều hạn chế trong khi đất đai đang biến động rất nhanh, văn bản pháp luật về đất đai lại rất nhiều và phức tạp, nên công tác quản lý đất đai trong cả nước còn nhiều bất cập. » Ông Dũng yêu cầu « tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai để kiến nghị sửa đổi Luật đất đai cho phù hợp với thực tế tình hình và yêu cầu phát triển mới. »

Thật ra từ mấy năm qua, nhiều người, nhất là trong giới chuyên gia luật pháp, đã lên tiếng về những bất cập trong Luật đất đai của Việt Nam. Nay các lãnh đạo Việt Nam mới nhìn thấy thực tế ấy.

Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên TuanVietNam.net ngày 10/02, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng « Vụ việc này càng thúc bách (chứ không chỉ nhắc nhở) phải sớm chỉnh sửa Luật đất đai ». Theo ông Vũ Khoan, « trong số các đạo luật về kinh tế ở Việt Nam, Luật đất đai có tầm quan trọng hàng đầu vì dù sao nước ta vẫn là nước nông nghiệp, trên 70% dân số sống ở nông thôn; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được đẩy mạnh ảnh hưởng rất nhiều tới đất đai; đây cũng là nơi phát sinh nhiều tệ nạn tiêu cực, tham nhũng ».

Ông Vũ Khoan cho rằng trong việc sửa đổi Luật Đất đai, có hai điểm mấu chốt nhất : "Thứ nhất là mối quan hệ giữa khái niệm “đất đai là sở hữu toàn dân” (một khái niệm quá rộng và khá trừu tượng) và các quyền của người dân nói chung và người nông dân nói riêng (là những con người cụ thể). Thứ hai là, sự phân cấp thế nào cho các cấp chính quyền địa phương để thực thi quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện cho sở hữu toàn dân. Bên cạnh đó có chuyện giải quyết tranh chấp đất đai theo cơ chế nào là thỏa đáng: bằng biện pháp hành chính hay qua tòa án, bằng cưỡng chế theo quyết định hành chính hay thi hành án?"

Đây cũng chính là vấn đề mà luật sư Hà Huy Sơn, thuộc Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải, Hà Nội, đặt ra trong bản kiến nghị gởi Quốc hội về việc hũy khoản 3, điều 39 Luật Đất đai, quy định về cưỡng chế thu hồi đất đai. Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Hà Huy Sơn giải thích :

« Kiến nghị của tôi xuất phát từ nghiên cứu luật và từ thực tế nghề nghiệp của tôi. Nhân dp này, khi xã hội đang chú ý đến, nên tôi có kiến nghị cho rằng, nguồn gốc của chuyện cưỡng chế thu hồi đất sai pháp luật là do ngay từ Luật đất đai 2003 đã phân quyền cho cơ quan hành pháp không hợp lý, dẫn đến nhiều sai phạm phổ biến trong xã hội. Nhiều cơ quan Nhà nước cũng đã thừa nhận rằng có đến từ 70% tới 80% các đơn khiếu kiện là đều liên quan đến cưỡng chế thu hồi đất đai. 

Điều 2 của Hiến pháp 1992 và sửa đổi năm 2001 quy định quyền lực của Nhà nước là thống nhất, có sự phân công của quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, nhưng Hiến pháp lại không nói rõ là sự phân công này là sự cân bằng quyền lực của ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong thực tế, tôi thấy là ngành hành pháp nhiều quyền hơn là lập pháp và tư pháp và có nhiều điều lần sang cả tư pháp, như trong chuyện cưỡng chế thu hồi đất.

Ngoài ra, cần phải quy định ai có quyền sử dụng lực lượng công an và và bộ đội trong việc cưỡng chế thu hồi đất. Tôi cho rằng chính cái khoản 3, điều 39 cho phép uỷ ban nhân dân cấp huyện, uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền được ra quyết định cưỡng chế nên mới có chuyện sử dụng lực lượng vũ trang và việc hành xử không đúng pháp luật như vụ Tiên Lãng vừa rồi. 

RFI : Nhưng theo nhiều chuyên gia thì mấu chốt của vấn đề vẫn là quyền sở hữu ruộng đất. Theo luật sư thì Luật đất đai của Việt Nam có nên được sửa đổi theo hướng công nhận quyền tư hữu ?

LS Hà Huy Sơn : Tôi nghĩ là Nhà nước nên thừa nhận quyền tư hữu về đất đai. Trong đợt dự kiến sửa đổi Luật đất đai kỳ tới, tôi không biết là Nhà nước sẽ đứng về lợi ích của ai. Nếu mà đứng về lợi ích của ai. Nếu mà đứng về phía lợi ích của người dân thì nên thừa nhận quyền tư hữu đất đai, đồng thời phải quy định là các uỷ ban nhân dân không được quyền cưỡng chế thu hồi đất đai, khi chưa có quyết định của cơ quan tòa án, tức là của ngành tư pháp. 

Theo tôi, khi vẫn chưa thừa nhận quyền tư hữu đất đai của người dân thì Luật đất đai nên được sửa đổi : không cho phép các ủy ban nhân dân cấp thẩm quyền, vừa có quyền ra quyết định thu hồi đất, vừa có quyền ra quyết định cưỡng chế, khi chưa có bản án của tòa án. 

Luật đất đai cũng thể hiện nghị định 69, quy định là anh khiếu nại thì cứ khiếu nại, còn cơ quan cưỡng chế thì cứ thực hiện cưỡng chế. Nhưng thực tế thì người dân đã bị cưỡng chế thu hồi đất, bị phá nhà cửa rồi, thì cũng không đủ điều kiện về hiểu biết, về tài chính, về khả năng để theo tiếp các vụ khiếu nại, khiếu kiện, và thưòng là thua vì đất của họ đã được giao cho các doanh nghiệp đầu tư, thu lợi nhuận. »

Về phần nhà sử học kiêm đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thì cho rằng với vụ Tiên Lãng, đã đến lúc phải sửa Luật Đất đai 2003, đồng thời với việc sửa đổi Hiến pháp 1992, mà theo ông là « Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam không chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai ». Trả lời RFI Việt ngữ, ông Dương Trung Quốc nhắc lại :


« Năm 2002, với tư cách đại biểu QH khoá 11, tôi đã được mời tham gia thảo luận về Luật đất đai 2003. Nội dung thảo luận là điều chỉnh những bất hợp lý của Luật đất đai 1993, quan trọng nhất là tăng thêm quyền cho người sử dụng đất. Tôi thấy là những nội hàm của quyền sử dụng đất đã gần đạt tới quyền sở hữu đất đai, vì người đó có quyền chuyển nhượng, bán, hiến, tặng, thừa kế, góp cổ phần…

Nhưng ngay từ hồi đó tôi đã phát biểu rằng đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng, vì đụng chạm đến điều cốt lõi là ruộng đất của người nông dân. Cho dù thời đại đã thay đổi rất nhiều, nhưng về căn bản ruộng đất vẫn là vấn đề hết sức quan trọng của Việt Nam. Ít người chú ý đến một đặc điểm của Luật đất đai 1993, đó là lần đầu tiên trong lịch sử của Việt Nam, quyền sở hữu tư nhân hoàn toàn bị triệt tiêu. Trước kia ta cứ tưởng rằng đất của vua là chuyện đương nhiên, nhưng nên nhớ rằng trong xã hội truyền thống Việt Nam trải qua hàng ngàn năm, đất là của vua, nhưng quyền định đoạt nó là thuộc về làng xã. 

Đất công ấy được điều chỉnh theo những quy định có tính chất truyền thống của bộ máy ít nhiều mang tính chất dân chủ. Nó dân chủ ở chỗ là điều chỉnh các quan hệ xã hội, những mâu thuẫn xã hội. Người giàu quá thì bớt đi, người nghèo quá thì tăng thêm. Nhưng ngay trong xã hội truyền thống, vẫn có một bộ phận là sở hữu tư nhân. Mà sở hữu tư nhân thì luôn có khuynh hưóng phát triển và nó xung đột với sở hữu công, trong đó có sở hữu Nhà nưóc và sở hữu làng xã.
Mặc dù vậy, đọc sử ta vẫn thấy mỗi lần có phong trào nông dân nổi dậy, khởi nghĩa đều là dấu hiệu của một biến cố, của sự sa sút và các Nhà nước phải luôn điều chỉnh cái đó, nếu không chế độ sẽ sụp đổ.

Vì thế, mặc dù Luật đất đai 2003 đã tăng thêm quyền của người sử dụng đất, nhưng lúc đó tôi vẫn cảm thấy là chưa ổn. Khi đó tôi đã phát biểu rằng quyền « sở hữu toàn dân » chỉ là một hư quyền, vì nó không xác định cụ thể là như thế nào cả. Quyền sử dụng đã gần đạt đến sở hữu tư nhân, đó là một tiến bộ thúc đẩy nỗ lực của người dân khi sử dụng đất. Nhưng quan trọng nhất là cái quyền định đoạt, tức là cái quyền đại diện cho cái sở hữu ấy là bộ máy công quyền, từ cấp xã trở lên.

Nếu bộ máy công quyền ấy làm sai đi thì sẽ gây nguy hiểm. Với cái tư duy nhiệm kỳ và với tư duy về các dự án, nó gây đảo lộn rất lớn. Chỉ cần ông chủ tịch xã vạch một con đường và bảo rằng đó là đường làng, hoặc khoanh thành một khu chợ hoặc khu công nghiệp, thì tự nhiên giá đất ở những đó tăng lên. Chỉ cần bộ máy công quyền không thực hiện một cách nghiêm chỉnh, khi mà có những lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, thì nó sẽ gây tác hại rất ghê gớm. Việc sử dụng đất một cách tùy tiện đã tạo nên bất bình đẳng xã hội, mâu thuẫn xã hội.

Tiên Lãng chỉ là một giọt nước làm tràn ly. Tôi quan niệm thế này không biết có lạc quan không : đây là một « bi kịch lạc quan ». Bi kịch vì nó đã gây thiệt hại nhiều cho người dân và những thành phần trong cuộc. Nhưng quan trọng hơn là ta phải giải quyết những vấn đề liên quan đến nhiều trường hợp khác tương tự. Cho nên tôi rất tán thành ý kiến của bà Đoàn Văn Vươn sau khi nghe kết luận của thủ tướng, nói rằng bà mong muốn thủ tướng quan tâm đến những số phận, những hoàn cảnh tương tự đang diễn ra ở rất nhiều nơi. 

Muốn giải quyết căn bản thì phải điều chỉnh lại luật đất đai và đặc biệt tăng cường bộ máy công quyền, nếu như chúng ta chưa thay đổi một cách căn bản, đặt câu hỏi : có nên tiếp tục giao đất có thời hạn hay không và có nên công nhận sở hữu tư nhân hay không, vào thời điểm mà Luật đất đai năm 1993 và 2003 sắp tới giới hạn của 20 năm giao đất, và vào thời điểm là Quốc hội đang bàn về sửa đổi Hiến pháp. » 

Là một người từ lâu vẫn gắn bó với ruộng đất ở Việt Nam nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Giáo sư Võ Tòng Xuân, trong một bài viết đăng trên trang web Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 9/2 với tựa đề « Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào vấn đề đất đai » cũng viết rằng « Khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” trong Luật Đất đai 1987-2009 đã tạo kẽ hở cho tham nhũng, lạm dụng chiếm hữu đất đai của dân. ». Ông nêu lên một thực tế là : « Những người “chủ trang trại” cũng như những người “chủ ruộng vườn” vẫn chưa hết lòng đầu tư cho phần đất được Nhà nước giao vì họ vẫn thấp thỏm sợ một ngày không ngờ sẽ bị tước đi mọi đầu tư của mình trên khu đất này. Họ sợ khái niệm “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. »

Giáo sư Võ Tòng Xuân dự báo là : « Chắc chắn nếu Luật Đất đai sửa đổi tới đây không đá động gì đến hạn điền và sở hữu tư nhân về đất đai, Nhà nước đến hạn thu hồi lại đất vào năm 2013 sẽ có một sự khủng hoảng lớn sẽ xảy ra, sản xuất lúa chắc chắn sẽ bị chựng lại! » Ông đề nghị : « Hai vấn đề mấu chốt của Luật Đất đai cần sửa đổi ngay: bỏ “hạn điền 3 héc ta” và công nhận “sở hữu tư nhân” về đất đai."

Theo ông Võ Tòng Xuân, làm như vậy, "các viên chức địa phương và trung ương sẽ ít có cơ hội tham nhũng, lạm dụng chức quyền đối với vấn đề đất đai của nhân dân. Nhà nước vẫn có thể sòng phẳng với nhân dân khi cần trưng dụng đất đai cho các mục tiêu quốc phòng, làm đường xá, xây công trình công cộng, xây dựng đô thị, xây khu công nghiệp... »

Rõ ràng là việc công nhận quyền tư hữu đất đai không chỉ là vấn đề công bằng xã hội, mà còn là vấn đề kinh tế, bởi vì một khi thật sự sở hữu ruộng đất của họ, người nông dân mới yên tâm sản xuất lâu dài, chủ trọng cải tiến năng suất và như vậy góp phần làm tăng sản lượng nông nghiệp.

19/02/2012

Một số thành viên muốn hạ thấp tầm mức bản Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN

Các ngoại trưởng Asean nhân hội nghị Jakarta 2/2011 (Reuters)
Các ngoại trưởng Asean nhân hội nghị Jakarta 2/2011 (Reuters)

Thanh Phương 18/02/2012
 
Trang mạng Mizzima, chuyên về những thông tin liên quan đến Miến Điện, hôm qua, đã tiết lộ một số chi tiết chung quanh bản Tuyên ngôn Nhân quyền của ASEAN, cho thấy là một số quốc gia thành viên của tổ chức tìm cách hạ thấp tầm mức của bản Tuyên ngôn này.

Vào tháng Giêng vừa qua, Uỷ hội Nhân quyền liên chính phủ ASEAN đã họp phiên đầu tiên tại Seam Reap, Cam Bốt và đã soạn ra bản dự thảo Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN.

Những bình luận của các giới chức từ các nước ASEAN cho thấy là một số quốc gia thành viên, nhất là Lào, đang tìm cách giảm nhẹ tầm mức của bản Tuyên ngôn này, trong khi các thành viên khác như Thái Lan, Indonesia và Philippines, thì đề nghị một văn bản tiến bộ hơn.

Lào là quốc gia có lập trường cứng rắn hơn hết, đặt điều kiện cho một số điều khoản trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Cụ thể, khi bình luận về nghĩa vụ và trách nhiệm của các thành viên ASEAN, đại diện của Lào đòi phải viết rằng, việc thực hiện các quyền phổ quát của con người phải được lồng trong bối cảnh « các nét đặc thù của quốc gia và khu vực » về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo.

Lập trường của Lào như vậy là trái ngược hoàn toàn với dự thảo Tuyên ngôn do Ban Thư ký của ASEAN đề nghị, tức là « bất kể hệ thống chính trị, kinh tế và văn hóa, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ tất cả các quyền của con người và các quyền tự do căn bản ».

Lào cũng đề nghị đưa vào khái niệm « an ninh quốc gia » và « đạo lý xã hội », đặt những khái niệm này lên trên các quyền phổ quát của con người và các quyền tự do. Lập luận của Lào là : « Việc chỉ nhấn mạnh đến nhân quyền có thể dẫn đến xung đột, chia rẽ và tranh cãi triền miên và có thể dẫn đến tình trạng vô pháp luật và hỗn loạn ».

Đề nghị của Lào nếu được chấp nhận sẽ cho phép một quốc gia thành viên có thể viện cớ « an ninh quốc gia » và « đạo lý xã hội » để đòi quyền miễn thực hiện Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN.

Theo trang mạng Mizzima, cả Lào lẫn Việt Nam đều giữ nguyên những quan điểm dè dặt về quyền tự do ngôn luận và tự do tiếp nhận thông tin. Riêng Lào thì đề nghị thêm : « Quyền tự do ngôn luận phải đi kèm với nghĩa vụ không được vu khống người khác và kích động hận thù, kỳ thị, chiến tranh, chia rẽ và bạo lực ». Nói chung, Lào là quốc gia lên tiếng mạnh mẽ nhất đòi đặt các quyền của quốc gia lên trên các quyền và quyền tự do cơ bản của con người. Lập trường này được Việt Nam và Malaysia ủng hộ.

Riêng Việt Nam thì đặt câu hỏi về cụm từ « một cách tự do » trong khái niệm « quyền của công dân được tham gia một cách tự do vào chính quyền ». Đồng thời đại diện của Hà Nội đề nghị là trong danh sách những vi phạm ngăn cấm một quốc gia dẫn độ một người xin tỵ nạn, nên bỏ các vi phạm « tra tấn, mất tích và các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng khác ».

Vào tháng trước, tổ chức Ân xá Quốc tế đã chỉ trích ban soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền, vì họ làm việc phần lớn là trong vòng bí mật và không hề tham khảo các tổ chức phi chính phủ chuyên về nhân quyền. Nói chung, các tổ chức xã hội dân sự lo ngại rằng, nhân danh những nét « đặc thù », ASEAN sẽ thông qua một bản Tuyên ngôn Nhân quyền với tầm mức thấp hơn nhiều so với những chuẩn mực của quốc tế.

18/02/2012

Ngành tư pháp Việt Nam yêu cầu xét xử lại vụ Tiên Lãng

Những gì còn lại của ngôi nhà ông Đoàn Văn Vươn sau khi bị chính quyền huyện Tiên Lãng đập phá. Ảnh chụp ngày 10/01/2012.
Những gì còn lại của ngôi nhà ông Đoàn Văn Vươn sau khi bị chính quyền huyện Tiên Lãng đập phá. Ảnh chụp ngày 10/01/2012.
REUTERS/Stringer

Thanh Phương 17/02/2012
 
Theo tin từ báo chí trong nước hôm nay 17/02/2012, Tòa án Nhân dân tối cao của Việt Nam ngày 15/2 vừa qua đã đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hủy các bản án để xét xử sơ thẩm lại vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng. Cụ thể, Tòa án Nhân dân tối cao hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm ngày 22/04/2010 của Tòa án Nhân dân Hải Phòng và Bản án hành chính sơ thẩm ngày 27/01/2010 của Tòa án Nhân dân huyện Tiên Lãng.

Nói chung, theo Tòa án Nhân dân tối cao, Tòa án Nhân dân của thành phố Hải Phòng cũng như của huyện Tiên Lãng đều đã không làm đúng theo thủ tục pháp luật tố tụng và Luật Đất đai.

Gia đình ông Đoàn Văn Vươn đã làm đơn kiện chính quyền địa phương vào năm 2009 vì không chấp nhận quyết định thu hồi đất. Nhưng ngày 5/1 vừa qua, Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng đã huy động một lực lượng hùng hậu công an và quân đội để thi hành lệnh cưỡng chế. Ông Vươn và những người khác trong gia đình đã chống trả bằng mìn tự tạo và súng bắn đạn hoa cải, làm bị thương 4 công an và hai bộ đội.

Vụ việc gây phản ứng mạnh trong dư luận đến mức Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc phải can thiệp. Vào tuần trước, ông Dũng đã phải nhìn nhận rằng vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng là « sai pháp luật » và hứa trừng trị những quan chức tham nhũng ở địa phương, đồng thời yêu cầu ngành tư pháp xem xét những tình tiết giảm nhẹ đối với các bị can, trong đó có ông Vươn, hiện đang bị tạm giam với tội danh « giết người » và « chống người thi hành công vụ ».

Theo bình luận của hãng tin AFP hôm nay, đây là bằng chứng cho thấy chính quyền Hà Nội rất lo ngại trước tính chất gây bùng nổ của vụ những vụ như ở Tiên Lãng, cũng như đã và đang xảy ra ở nhiều nơi khác ở Việt Nam, hậu quả của nạn tham nhũng và lạm quyền tại các địa phương.

Như nhận định của ông David Brown, nhà ngoại giao về hưu và là một chuyên gia về khu vực Đông Nam Á, vụ Tiên Lãng là biểu hiện của tất cả những bất cập trong hệ thống đất đai Việt Nam.

Hơn 70% các vụ khiếu kiện các chính quyền địa phương đều liên quan đến đất đai và tình hình này sẽ trầm trọng hơn vào năm 2013, khi hàng triệu hợp đồng thuê đất nông nghiệp hết hạn. Theo ông David Brown, về cơ bản, đây là vấn đề « có tính chất sống còn » đối với chế độ.

Vấn đề là theo chuyên gia Carl Thayer, thuộc đại học New South Wales của Úc, trong ngắn hạn, Việt Nam sẽ chưa cải tổ Hiến pháp để công nhận quyền tư hữu đất đai, và cũng sẽ chưa cải tổ sâu rộng Luật đất đai.

Ông Carl Thayer nhắc lại vụ Thái Bình năm 2007, khi hàng chục ngàn người đã biểu tình ở tỉnh này, tấn công vào trụ sở công an, đốt cháy nhiều công thự. Trong những năm gần đây, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra ở các thành phố lớn ở Việt Nam cũng do khiếu kiện về đất đai.

Theo hãng tin AFP, trong vụ Tiên Lãng, hai quan chức địa phương đã bị đình chỉ chức vụ, nhưng dân làng vẫn bất mãn. Như lời một phụ nữ 50, xin được miễn nêu tên, « chính quyền làm sai, nhưng gia đình ông Vươn lại bị kết tội ». Một người hàng xóm của bà thì hy vọng là tòa sẽ biết rõ ra khoan dung. Ông nói : « Ông Vươn không có gì để mất. Mà thật ra tất cả chúng tôi đều trong cùng hoàn cảnh. Vì sao họ lại đối xử với ông ta như vậy ? ».

15/02/2012

Việt Nam: Hàng trăm người ký tên vào kiến nghị đòi trả tự do cho những bị can ở Tiên Lãng

Người dân xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng ở gần khu đầm bị cưỡng chế của ông Đoàn Văn Vươn. Ảnh chụp ngày 10/01/2012.
Người dân xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng ở gần khu đầm bị cưỡng chế của ông Đoàn Văn Vươn. Ảnh chụp ngày 10/01/2012.
REUTERS/Stringer

Thanh Phương 15/02/2012
 
Hôm nay, 15/02/2012, luật sư Trần Vũ Hải ở Hà Nội vừa cho công bố trên các trang blog một bản kiến nghị gửi Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị « xem xét thay đổi tội danh và biện pháp ngăn chặn » đối với các bị can bị tạm giam trong vụ án chống lại cưỡng chế tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Trong bản kiến nghị, luật sư Trần Vũ Hải cho rằng quyết định thu hồi đất cũng như việc cưỡng chế thu hồi đất ngày 05/01/2012 đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng là « trái pháp luật ».

Cho nên, ông kiến nghị Viện Kiểm sát Nhân dân Hải Phòng, trước hết, xem xét lại các tội danh « giết người » và « chống người thi hành công vụ » đối với các bị can đang bị tạm giam, gồm các ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh và Đoàn Văn Vệ. Đối với luật sư Trần Vũ Hải, « chống trả một hành vi trái pháp luật phải được coi là hành vi phòng vệ chính đáng ».

Đồng thời, luật sư Hải kiến nghị là trong thời gian chờ đợi xét xử, phải thay đổi biện pháp ngăn chận đối với 4 bị can, để họ có thể trở về khai thác, quản lý khu đất sẽ được chính quyền địa phương giao trả lại cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Nói cách khác, luật sư yêu cầu cho họ được tại ngoại hầu tra.

Luật sư Trần Vũ Hải kêu gọi tham gia ký tên vào bản kiến nghị, từ đây đến cuối tháng 2. Đầu tháng 3, ông sẽ trao bản kiến nghị và danh sách những người ký tên cho ông Lương Văn Thành, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Hải Phòng.

Tới nay, bản kiến nghị của luật sư Trần Vũ Hải đã nhận được chữ ký ủng hộ của hơn 200 người, trong đó có nhiều nhân sĩ trí thức hàng đầu của Việt Nam.

Putin tìm cách kiểm soát những truyền thông độc lập ở Nga

Ông Putin và biểu hiệu đài "Tiếng Vọng Matxcơva"
Ông Putin và biểu hiệu đài "Tiếng Vọng Matxcơva"

Thanh Phương 15/02/2012
 
Đài phát thanh « Tiếng vọng Matxcơva », vốn có lập trường chỉ trích điện Kremlin, sắp sửa thay đổi nhân sự lãnh đạo. Sự kiện này cho thấy là thủ tướng Vladimir Putin, ứng cử viên tổng thống tháng Ba tới, đang tìm cách kiểm soát những truyền thông độc lập tại Nga.

Gazprom-media, công ty thuộc tập đoàn dầu khí quốc doanh Gazprom, cổ đông chiếm đa số ( 66% ) của đài « Tiếng vọng Matxcơva », đã yêu cầu thay đổi nhân sự lãnh đạo để giành quyền kiểm soát trên các quyết định của Hội đồng quản trị. Vào cuối tháng Ba tới, hai giám đốc độc lập của đài này sẽ buộc phải rời khỏi chức vụ. Đài này sẽ có thêm một chức giám đốc điều hành mới. Như vậy là tổng cộng Gazprom-media sẽ có ít nhất 5 phiếu bầu trong Hội đồng quản trị chỉ bao gồm 9 thành viên.

Phát ngôn viên Gazprom-media khẳng định đây chỉ là thay đổi nhân sự thuần túy mang tính hành chính, chứ không ảnh hưởng gì đến đường lối biên tập. Nhưng đối với tổng biên tập đài « Tiếng vọng Matxcơva », ông Alxei Venediktov, thay đổi nhân sự này rõ ràng là do những áp lực chính trị từ cấp lãnh đạo cao nhất của nước Nga, nói thẳng ra là có bàn tay của ông Putin đằng sau.

« Tiếng vọng Matxcơva » là đài phát thanh độc lập đầu tiên ra đời năm 1990 với sự sụp đổ của Liên Xô. Một năm sau khi ông Putin lên cầm quyền, đài này, cùng với đài truyền hình tư nhân NTV, nằm dưới quyền kiểm soát của tập đoàn Gazprom.

Nhưng cho tới nay, đài « Tiếng vọng Matxcơva » vẫn thường xuyên phát những bài bình luận chỉ trích chính quyền Putin và để cho những người tổ chức phong trào biểu tình phản kháng lên tiếng. Cách đây một tháng, thủ tướng Nga đã công khai tỏ thái độ bực tức với tổng biên tập của đài này, cho là « Tiếng vọng Matxcơva » chuyên bôi bẩn ông ta « từ sáng tới tối » và chỉ tuyên truyền cho quan điểm của Mỹ.

Bản thân ông Venediktov hôm qua cố tỏ vẻ lạc quan, cho rằng tình hình chưa đến nổi bi thảm lắm và ông sẽ vẫn là tổng tập của đài, mà hiện các phóng viên còn nắm 34% cổ phần.

Nhưng sự kiện nói trên càng làm tăng thêm mối lo ngại của những người vẫn sợ là điện Kremlin sẽ bịt miệng toàn bộ những tiếng nói đối lập với ông Putin, nhân vật mà từ tháng 12 năm ngoái đến nay phải đối phó với một phong trào biểu tình phản kháng với tầm mức chưa từng có, kể từ khi ông lên cầm quyền vào năm 2000.

Theo lời ông Evgueni Iassine, cựu bộ trưởng Kinh tế, một trong hai thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đài « Tiếng vọng Matxcơva », quyết định nói trên là nhằm mục đích để Nhà nước kiểm soát các truyền thông độc lập. Còn đối với bà Elena Zelinskaia, phó chủ tịch một nghiệp đoàn truyền thông độc lập, việc thay đổi nhân sự này là nhằm « nhắc nhở » tổng biên tập Venediktov rằng không phải ông muốn làm gì thì làm.

Nhà tỷ phú Mikhail Prokhorov, ứng cử viên tổng thống Nga, đã đề nghị hỗ trợ các phóng viên « Tiếng vọng Matxcơva » để họ có thể mua lại các cổ phần của Gazprom, nhưng theo lời tổng biên tập Venediktov, tập đoàn này vẫn từ chối nhượng cổ phần của họ.